Tôi Trở Về Chân Lý

1,219 views

Công Bố Phúc Âm

Đề tài

Tôi Trở về Chân Lý

 Kính thưa qúy vị.

     Đây  là chương trình “Công Bố Phúc Âm”, do Vietnamese Global Missionary  tại Hoa-Kỳ đảm trách. Sứ mạng của Hội Truyền Giáo là đem Chân-Lý Hằng Sống của Đức Chúa Trời đến với tất cả mọi người, không phân biệt tôn giáo, giáo hội, giáo phái, trước khi “mặt trời sẽ đổi ra tối tăm, mặt trăng ra máu, trước khi ngày lớn và đáng sợ của Đức-Giê-hô-va chưa đến,” đó là Lời Chúa được chép trong Thánh Kinh sách Giô-ên 2:31.
 

        Mục đích của bài giảng này, là dùng Thánh Kinh để giải đáp một số thắc mắc cho một số anh chị em thuộc tín hữu Công giáo nói riêng, đã gởi thư về chương trình Công Bố Phúc Âm,” muốn  giải thích một số câu hỏi có liên quan đến niềm tin với Kinh Thánh, hầu hiểu rõ Chân Lý một cách đúng đắn. Và nói chung là cho tất cả mọi người muốn hiểu biết những điều mà mình chưa có cơ hội tìm hiểu, trong phạm vi của bài giảng này.Vì Chân lý của Thánh Kinh là lời Hằng sống của Đức Chúa Trời có sự liên quan mật thiết mang tính sống-chết mà không thể nào tách rời được giữa linh hồn và thể xác của mỗi người chúng ta.

Kính thưa qúy vị

       Vấn đề  trả lời những câu hỏi thắc mắc của một số qúi vị thuộc phạm vi của bài giảng này, là một sự đóng góp mang ích lợi chung cho linh hồn mỗi người trong chúng ta. Cho nên, điều quan trọng hơn hết đối với mỗi chúng ta bây giờ là gì? Hãy hiệp một vui-vẻ trong tình yêu thương anh em mà vén bức màn đã che đậy Chân Lý từ ngàn xưa, để xem Chân Lý nói gì với chúng ta ngày nay .
Trước khi bước vào từng phần của bài giải đáp thắc, tôi xin làm chứng một cách tóm tắt về cuộc đời của tôi theo Chúa để làm nền tảng cho những phần tiếp theo hầu cho chúng ta dễ dàng thông cảm với nhau hơn .

Kính thưa qúy vị .

      Tôi là một người được sanh ra trong một gia đình Công giáo tin kính Chúa. Bà cô ruột của tôi có kể lại cho tôi nghe là bà trở thành một nữ tu khi còn rất trẻ. Trong suốt những ngày tháng còn ở trong gia đình, tôi nhận thấy bà là người hoạt động và mở mang trong công việc Chúa rất là hăng say. Hiện nay bà đã gần 90 tuổi, công việc Chúa còn dang dở, lòng say mê trong sự hầu việc Chúa không hề phai tàn, nhưng bây giờ bà đành buông xuôi tất cả mọi sự, trở về sống với con cháu để chờ ngày cuối cùng của cuộc đời mình .
Tôi được học lời Chúa từ nơi cô của tôi hướng dẫn từ khi còn bé một cách rất điều độ, vào mỗi buổi chiều lúc 5  giờ. Tôi được học lời Chúa không phải từ nơi cuốn Thánh Kinh to lớn đẹp đẽ như ở nhà thờ dùng cho linh mục làm lễ ngày xưa, cũng chẳng phải là cuốn Kinh Thánh xinh đẹp của người tin lành ngày nay, nhưng từ những cuốn sách nhỏ được in ra từng phần. Tôi cũng chẳng bao giờ nhìn thấy được cuốn Kinh Thánh có kích cỡ thế nào trong thời kỳ  bấy giờ, vì người tín hữu Công giáo lúc ấy tôi thấy chẳng ai có Kinh Thánh để đọc cả. Cho nên Cô tôi dạy gì tôi học nấy, và những sự hiểu biết đó dường như đã được niêm phong vào trong đầu óc của tôi vậy.Thời gian cứ thế trôi qua một cách điều độ, và tùy theo số tuổi được thêm vào hàng năm, tôi cũng tuần tự được đón nhận những Lễ ,những Phép, do Giáo hội Công giáo quy định.
Về phương diện thờ phượng, thì tôi đi nhà thờ một cách đều đặn vào mỗi buổi sáng ngày thường với cha mẹ tôi, còn chiều thứ Bảy thì đi Chầu. Những ngày còn ở trong Giáo hội Công giáo tôi chưa hề bỏ một giờ thờ phượng nào, ngược lại, lúc nào cũng trông mong để được đến nhà thờ gặp Chúa. Những  trái chuông treo lủng lẳng trên tháp nhà thờ mỗi khi cất tiếng lên; thì đối với tôi, chẳng khác nào đó là một tiếng réo gọi linh hồn mình đến trình diện với Thiên Chúa, nên tôi liền bật dậy như chiếc lò xo, không do dự, và tôi cũng siêng năng xưng tội để làm mất dấu vết về  sự phạm tội trong lòng  mình, hầu cho tấm lòng được thanh thản hơn.
Thời học sinh thì tôi được gia đình gởi vào học trường  Saint Thomas từ Đệ Thất , tôi vui vẻ và hãnh diện được làm học sinh của trường ấy. Tôi yêu mến mái trường, tôi say mê  ngôi nhà thờ với lối kiến trúc thấp-thấp, những cây cột thì tròn và to ở phía trên nhỏ ở phía dưới- bằng đá mài màu cẩm thạch mát rượi và bóng láng. Mặt tiền phía trên nhà thờ  có khắc hình một cuốn Kinh Thánh rất lớn, biểu tượng về Chân lý là những gì ở bên trong đó . Mỗi khi nhìn thấy cuốn Kinh Thánh ở trên , tôi rất trân trọng với lòng cung kính , kèm theo sự ao ước thoáng qua: là làm sao mình có cuốn Kinh Thánh đó bằng tiếng Việt-nam của riêng mình để xem Chúa nói gì ở trong.Tôi cũng là người được chọn vào ban hát lễ của trường để hát vào những buổi lễ long trọng, chẳng hạn như là đón Đức Mẹ Thánh du, hay là những ngày đại lễ như  Giáng sinh   v…….v .

       Hết lớp mười hai tại Saint Thomas, tôi đổi trường khác, và một thời gian sau đó tôi có lệnh gọi nhập ngũ vào năm 1968. Trong quân ngũ, đi đến đâu tôi cũng lập một bàn thờ với một bức tượng tôi tôn sùng nhất là mẹ Ma-ri-a, và đọc kinh lần hạt sớm tối. Bởi khuôn khổ của lòng tin kính đã được tôi luyện từ trong một gia đình yêu mến Chúa, cho nên đối với riêng cá nhân tôi, sự nguội lạnh về niềm tin, hay là bỏ nhà thờ ngày Chúa nhật là điều không thể nào xảy ra, ngoại trừ công vụ.
Sau khi phục vụ trong quân ngũ một thời gian, tôi muốn lập gia đình. Người tôi đang muốn tiến tới hôn nhân là một cô gái theo đạo Tin-lành. Khi biết tôi là người theo đạo Công giáo, gia đình cô quyết tâm nói về Chân Lý cho tôi nghe, và muốn tôi quay trở về với  Kinh Thánh.  Hai chữ Kinh Thánh bây giờ lại hiện lên trong ký ức của tôi mà từ bao nhiêu năm về trước- như đã chìm vào trong quên lãng, bây giờ được sống lại trong tâm trí một cách lạ lùng.Tôi tự hỏi “phải chăng điều tôi mơ ước là đây”. Bắt đầu khởi điểm từ đó, khiến tấm lòng tôi bây giờ không còn được tự do như thuở nào. Nhưng bắt đầu bước vào một trận giằng co khó phân biệt. Sau đó tôi quyết định báo tin về gia đình xem ý kiến mọi người như thế nào. Kết quả ai cũng phản đối hết. Bà Cô cho tôi biết rằng: Không thể lấy người Tin lành được, sẽ mất linh hồn, vì họ không tin Đức Mẹ  đồng trinh. Và họ không bao giờ chiụ xưng tội v……v . Thế tôi hỏi: vậy cháu có thể lấy vợ mà không nhận đạo vợ được không? Bà cô tôi bảo được, nhưng cẩn thận đừng để nó “ dụ cháu”! Thế là tôi mở chiến dịch thuyết phục để  giải thích bằng kinh nghiệm hiểu biết một chiều sẵn có của mình, cộng thêm lập trường của tôi là phải làm sao buộc người vợ tương lai của mình quay đầu trở lại với Giáo-hội một cách vui vẻ.Thế là chẳng bao lâu tôi đã thành công. Nhưng tôi nghĩ lại chẳng hiểu tại sao tôi lại thành công? Mà thành công ở chỗ nào nữa?  Rõ ràng thành qủa cuối cùng chẳng qua chỉ là sự ép buộc mang tính tế nhị, khiến cho vợ tôi đành chấp nhận một cách vui vẻ.

        Chúng tôi thực hiện lễ cưới trong nhà thờ theo nghi thức Công giáo, và tiếp-tục say mê với niềm tin từ thuở nào. Sau một thời gian dài đã trôi qua, 30 tháng 4 năm 1975 đã đến trên trên đất  nước Việt-nam. Móc ngoặc lịch sử của ngày ấy  đã tiễn đưa bước chân chúng tôi vào một ngã rẽ của cuộc đời! Tôi thì vào trong trại tù, còn vợ, con, thì trở lại quê xưa. Trong cái chung của tất cả mọi người, thì Đức Chúa Trời có cái riêng cho tôi. Sau sáu năm tôi nằm trong trại, vợ tôi ở ngoài đã có cơ hội ôm ấp lại quyển Kinh Thánh cũ xưa kia, được trao dồi học hỏi từ nơi Hội Thánh để thấm nhuần về Chân lý, là lời dạy của Đức Chúa Trời một cách sâu nhiệm. Bây giờ nhà tôi mới bắt đầu hiểu được Chân lý để chuẩn bị cho một ngày giãi bày cho tôi  thì đã muộn, nhưng hy vọng còn kịp để cứu vãn tình hình cho phương diện linh hồn!

     Trong lần đi thăm tôi đầu tiên tại trại giam, khi gặp nhau, thì nhà tôi cho tôi biết rằng: những ngày bà ở nhà đã được học Kinh Thánh và hiểu được những điều cần thiết về Chân lý để nói cho tôi nghe chứ không phải non trẻ như những ngày xưa, hầu bị tôi thuyết phục một cách nhẹ nhàng đâu. Đây là lần thứ ba mà từ Kinh-Thánh đã đập mạnh vào tâm trí tôi hơn bao giờ hết. Dẫu vậy tôi cũng cố gắng bình tĩnh để  trả lời  với nhà tôi rằng: Về niềm tin, tôi không thích bị thuyết phục bởi phương diện tâm lý, vì nếu về phương diện tâm linh mà bị tâm lý thuyết phục thì tâm linh sẽ chết lần mòn. Cho nên bây giờ tôi muốn Chân lý thuyết phục tôi. Vì khi Chân lý đã thuyết phục được tôi, thì tâm linh tôi được Chân Lý giải thoát”.Tôi nói nhà tôi cứ im lặng chờ đến ngày tôi về, tôi sẽ xem cả hai quyển Kinh Thánh, Công Giáo và Tin Lành cùng sự thực hành niềm tin của hai bên trên thực tế, rồi tôi sẽ chọn một .

     Cảm tạ Chúa sau khi trở về nhà, tôi bắt đầu bước vào phương diện tâm linh bằng cách tôi đã hứa, và một thời gian sau đó Chân Lý đã bắt phục tôi. Lần đầu tiên  tôi vui vẻ bước chân vào nhà thờ Tin lành ở Thủ đức, tôi được sự thúc dục rất mạnh mẽ từ nơi Chúa ở trong lòng mình, tôi đã xin tuyên xưng niềm tin trở lại, và chúng tôi lần này không phải là quay về với Giáo hội nào cả, nhưng quay về với Chân lý Kinh Thánh là lời dạy của Đức ChúaTrời; Đấng tạo dựng nên mình. Tôi cũng  không theo luật của Giáo hội nào cả, mà theo luật pháp của Đức Giê-hô-va. Và tôi cứ trung thành niềm tin của mình nơi Thánh Kinh là lời của Đức Chúa Trời. Vì lời của Chúa đã phán một cách qủa quyết cho tất cả mọi tín hữu thờ Chúa, cũng như tất cả mọi lãnh đạo tinh thần hướng dẫn người tin trong Thánh Kinh sách Mát-thêu  7:21 Lời Chúa phán:” “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “ Lạy Chúa ! Lạy Chúa!” mà được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào nhà thôi”.”
Chính vì lẽ đó người tín hữu bắt buộc phải có Kinh Thánh,  thì mới thật sự tìm được con đường sống  cho linh hồn mình. Vì theo người; người đi đâu làm sao mình biết được, vì  chính họ chưa biết họ đi đâu, thì  làm sao mình biết họ đi đâu. Thế thì làm sao mình biết mình sẽ đi về đâu? Theo bạn thì con đường đời sau bạn cần Chân Lý hướng dẫn, hay là triết lý của loài người điều khiển? Trong Thánh kinh sách Giê-rê-mi-a 10:23 tác giả được Chúa Thánh Linh cảm động thốt lên rằng:“” Lạy Đức Chúa, con biết rằng: Con đường mình đi người ta không làm chủ bước chân mình tiến, lữ khách không thể định đoạt.” Nhưng  nếu chúng ta theo Chúa, Chúa đi đâu thì mình biết hết. Trong Thánh Kinh sách Gio-an  14:4 Lời Chúa phán “” Vả Thầy đi đâu thì anh em biết đường rồi”.”

        Ngày 26 tháng 7 năm 2007 trong chuyến về thăm quê hương, khi bước chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất, tôi nôn nóng với hình ảnh của mái trường thân thương ngày xưa, ngôi nhà thờ yêu mến với cuốn Kinh Thánh tràn đầy kỷ niệm từ thuở nào. Sau 30 phút ngồi trên chiếc xe gắn máy quanh co với những con đường đông nghẹt người qua lại . Tôi đã đến  nơi mình mong muốn, nhưng rất tiếc là những hình ảnh ngày xưa tôi muốn gặp hiện không còn. Nhưng những hình ảnh trước mắt tôi bây giờ thì hoàn toàn xa lạ. Ngôi  nhà thờ ngày xưa không còn nữa, cuốn Kinh Thánh đúc bằng xi-măng ở trên được khắc chữ Veritas cũng đã từ giã tôi rồi. Thay vào đó là một ngôi nhà thờ mới, với lối kiến trúc qúa độc đáo! Nổi bật nhất  là nơi thờ phượng Chúa mà lại có sự hiện diện của vô số những con  rồng lớn nhỏ  ở khắp mọi nơi cho nên tôi thấy điều này thật khó hiểu!

         Nỗi buồn man-mác đang gợi lên trong tôi. Vì cuốn Kinh Thánh của ngôi thánh đường cũ tràn đầy kỷ niệm dưới mái trường xưa, nay không còn nữa. Nhưng dấu ấn qúi giá đó đã chuyển từ ký ức ngày xưa qua thực tế ngày nay. Vì từ cuốn Kinh Thánh bằng xi măng nằm trên mặt tiền của nhà thờ trường Saint Thomas ngày nào đó, nay đã trở thành  cuốn Kinh Thánh thật; chứa đựng lời của Đức Chúa Trời toàn năng đã nằm trong tay tôi như là một bảo vật từ trời, mà Đức Chúa Trời hoàn thành cho sự ước muốn của tôi vậy. Nhờ Kinh Thánh mà suốt mấy chục năm qua, tôi đã tìm được vô số câu trả lời cho sự thắc mắc của linh hồn mình. Tôi đã được giải thoát, đã được nhẹ nhàng đúng như lời Chúa đã phán trong Kinh Thánh sách Gio-an 8:31” ” Vậy, Đức Giê-xu nói với những người Do-thái đã tin Người: “Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi. Các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông”.” Đó là vài nét tóm tắt trong cuộc đời theo Chúa của tôi để gởi đến qúi vị, như là một câu trả lời cho sự thắc mắc:“ Tại sao tôi phải điều chỉnh niềm tin ?

Phần Hai:

     Bây giờ đến phần trả lời một số câu hỏi thắc mắc của anh chị em. Qua sự soi sáng của Chân Lý Thánh Kinh như sau .
Câu hỏi thứ Nhất : Tôi là một tín hữu Công giáo, tôi đang bị quay cuồng ở chỗ: bà Mari vừa là Mẹ Chúa Giê-xu, vừa là Mẹ Đức Chúa Trời nghĩa là thế nào ?

     Xin Trả Lời: Qua câu hỏi này, tôi sẽ đặt ra hai câu hỏi kế tiếp và trả lời trước, sau đó chúng ta mới trả lời cho câu hỏi ở trên sau.

      A / Chương trình Cứu rỗi loài người là do kế hoạch đời-đời  của Đức Chúa Trời ,hay là do kế hoạch tạm thời của bà Ma-ri-a .

      Xin trả lời : Chương trình Cứu rỗi loài người là do kế hoạch từ trước muôn đời của Đức Chúa Trời ở trên trời. Chứ không phải bởi bà Ma-ri-a ở dưới đất. Tôi muốn hỏi bạn là có bao giờ bạn thấy có bệnh viện nào mà  gồm toàn các vị bác sĩ đang mang bệnh tật giống như bệnh nhân trong bệnh viện  mà lại chiụ trách nhiệm chữa trị cho bệnh nhân không? Thế  thì kế hoạch của sự cứu rỗi cũng không thể do loài người trần thế mang tội tổ tông chủ xướng, mà phải từ Đấng Thánh khiết ở thiên thượng ban cho; mới giải cứu cho con người trong thế giới tội lỗi này được .

       B/ Bà Ma-ri-a sử dụng Đức Chúa Trời trong kế hoạch đời-đời của Ngài, hay là Đức Chúa Trời xử dụng bà Ma-ri-a trong kế hoạch ấy của Ngài? Câu hỏi này dường như hơi ngớ ngẩn, nhưng nếu chúng ta không phát hiện được sự  ngớ ngẩn của câu hỏi này, thì chúng ta sẽ không thấy mình đang ngớ ngẩn trước những điều mình tin!

       Xin trả lời :Đức Chúa Trời sử dụng bà Mari trong kế hoạch cứu rỗi của Ngài. Qúi vị có đồng ý không? Không ai dám trả lời là không đồng ý cả. Vì chính bà Ma-ri-a đã xưng nhận vị trí của mình trong công tác này là gì? Mời bạn nghe bà Ma-ri-a  thốt lên  trong Thánh Kinh sách Lu-ca 1: 38 như sau: ““Bấy giờ bà Ma-ri-a nói : “Vâng tôi đây là nữ-tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” rồi sứ thần từ biệt ra đi”.” Tại sao bà Ma-ri-a lại được Chúa dùng? Vì Bà Ma-ri-a là một người nữ đặc biệt trong sự hạ mình, đã được Đức Chúa Trời chọn bà để thực hiện- một trong những sứ mạng quan trọng nhất của lịch sử nhân loại. Đây là một sự đòi hỏi tối quan trọng của Đức Chúa Trời đối với bất cứ ai; khi muốn Đức Chúa Trời sử dụng  mình. Bà Ma-ri-a đã thành công trong sự chọn lựa của Đức Chúa Trời, bà đã vui mừng thốt lên những lời  ngơị khen Chúa mà Kinh Thánh sách Lu-ca 1:46 đã ghi lại như sau.
Bấy giờ bà Ma-ri-a nói :
Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa ,
Thần trí tôi hớn hở vui mừng ,vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi
Phận nữ-tỳ hèn mọn
Người đoái thương nhìn tôi; từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc .
Đâng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả ,danh người thật chí thánh chí tôn . Đời nọ tới đời kia Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người”.”

          Những lời ngợi khen Chúa của bà Ma-ri-a như mùi hương thơm vô giá, để dâng lên Chúa tấm lòng biết ơn. Vì Ngài đã đoái đến sự hèn hạ của bà. Sự hạ mình của bà Ma-ri-a như là một sứ điệp gởi cho toàn thể nhân loại, những ai muốn dành cuộc đời mình cho Đức Chúa Trời dùng thì hãy hạ mình như chính bà đã thực hiện. Bà Ma-ri-a là một mẫu  người có những đức tính mà Đức Chúa Trời vừa ý. Hai điều đặc biệt đó là: sẵn sàng thuận phục Chúa để hy sinh cho Chúa, và hạ mình xuống thật thấp để danh Chúa thật được tôn cao.
Trong Thánh kinh sách Lu-ca cho biết, khi lời báo tin của thiên sứ về việc Đức Chúa Trời chọn bà hoài thai Đấng Cứu Thế qua quyền phép của Đức Thánh Linh, là một trinh nữ  khi nghe tin này bà rất là sửng sốt, nhưng bà rất  sáng suốt để xác định vị trí con người của bà trước sự chứng kiến của sứ thần  bà nói: ” Vâng tôi đây là nữ-tỳ của Chúa , xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”.” Bà Ma-ri-a hàm ý rằng: Con đây, chính  là một tôi tớ hèn mọn của Ngài. Mọi việc Ngài muốn làm trên đời sống con; xin Ngài cứ thực hiện theo như ý Ngài đã phán.

        Chúa biết tấm lòng của bà ,chính vì thế mà Chúa đã đại dụng bà trong công việc lớn lao này. Thánh Kinh sách Gia-cô-bê  4:10 lời Chúa phán: ““Anh em hãy hạ mình xuống và Người sẽ cất nhắc anh em lên”.” Có người hỏi tôi rằng: Trong Kinh kính mừng của Công giáo có câu  Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời” điều này có thật không? Trước khi giải thích câu hỏi này, thì tôi xin phép đặt một câu hỏi để hỏi qúi vị: Tại sao Đức Chúa Trời có từ trước muôn đời, mà bây giờ Ngài lại phải cần có mẹ trần gian? Việc Đức Chúa Trời có mẹ là do Đức Chúa Trời muốn thế, hay là con người phạm thượng áp đặt cho chính Ngài- để hạ thấp thần tánh của Ngài? Nếu ai trả lời là Đức Chúa Trời muốn thì dẫn chứng Thánh Kinh. Còn nếu trong Thánh Kinh không có, thì có nghĩa là con người đã phạm tội trọng với Đức Chúa Trời. Điều này bắt nguồn từ đâu? Muốn làm sáng tỏ vấn đề tối quan trọng này, trước hết chúng ta phải đặt một câu hỏi về bà Ma-ri-a trước, xem lập trường đức tin và sự hạ mình của bà có trung thành với Đức Chúa Trời không?

       Câu hỏi đó là: Sau khi hoài thai Chúa Giê-xu ,có chỗ nào trong Kinh Thánh ký thuật bà Ma-ri-a từ bỏ sự hạ mình; để lên mình, tự xưng mình là mẹ Đức Chúa Trời không?

       Xin trả lời : Chẳng có chỗ nào trong Thánh Kinh đề cập đến lời Chúa phán, hay là bà Ma-ri-a tự xưng mình là mẹ của Đức Chúa Trời, trước và sau khi hoài thai Chúa Giê-xu cả. Bà chỉ một mực trước sau như một; xưng mình là tôi tớ của Chúa thôi! Như vậy thì đây là một lời xưng hô không phải do nơi bà Ma-ri-a, vì nó nằm ngoài Thánh Kinh mang tính phạm thượng . Làm sao một  Đức Chúa Trời Toàn năng, Toàn tri, là Vua của các vua, là Chúa của các chúa mà lại có người mẹ trần thế là bà Ma-ri-a được!
Phải chăng người ta lý luận rằng: Đức Chúa Trời có Ba ngôi, Ba ngôi là  một Chúa. Như vậy bà Mari là mẹ Đức Chúa Giê-xu, Đức Chúa Giê-xu là Ngôi Hai trong Ba ngôi -cũng là Đức Chúa Trời. Cho nên bà Ma-ri-a là mẹ Chúa Giê-xu thì cũng đương nhiên  là mẹ Đức Chúa Trời chăng? Trong Kinh Thánh sách Ga-lát 6:7 Lời Chúa phán “Anh em đừng có lầm tưởng: Thiên Chúa không để cho người ta nhạo báng đâu! Thật vậy! Ai gieo giống nào, thì sẽ gặt giống ấy”. Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu ,thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt thì sẽ gặt được kết qủa của Thần Khí là sự sống đời-đời”.”

        Thánh Kinh không cho phép chúng ta hiểu sai về thần tính của Đức Chúa Trời, để mang sự sỉ nhục đến danh Ngài. Và chính những sự tung hô đó cũng hoàn toàn trái ngược với tấm lòng hạ mình khiêm nhường, tôn kính của bà Ma-ri-a đối với Chúa. Chúng ta phải biết phân biệt  giáo lý Ba ngôi và giáo lý của sự Cứu chuộc một cách rõ ràng. Về giáo lý Ba ngôi, Thánh Kinh cho chúng ta biết rằng, Đức Chúa Trời có Ba ngôi, mỗi Ngôi có một  thân vị khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Trong Kinh Công giáo có câu“: “Ba ngôi cũng một tính một phép, cho nên Ba ngôi cũng một Chúa mà thôi.” Chúng ta biết Đức Chúa Trời là Đấng Tự hữu Hằng hữu. Ngài có từ trước muôn đời, mà thần tính của Ba ngôi Đức Chúa Trời hoàn toàn khác hẳn với  nhân tính của loài người. Thế thì làm sao Đấng Tự hữu Hằng hữu mà lại có người phụ nữ trần gian làm mẹ mình thì vô cùng phi lý! Không thể nào có điều đó trong Đức Chúa Trời Ba ngôi và bà Ma-ri-a cũng chẳng hề chấp nhận lời tung hô phạm thượng đó thuộc về  bà bao giờ! Chúng ta có biết  rằng; khi loài người được tôn cao thì Đức Chúa Trời thì bị hạ xuống  không? Nếu lời tung hô này còn duy trì mãi trên đất bao lâu, thì sẽ có vô số người phạm tội trọng với Đức Chúa Trời bấy lâu, bạn phải biết rõ điều đó .

      Có người thắc mắc hỏi : Nếu Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời ,thế sao bà Ma-ri-a làm mẹ Chúa Giê-xu mà lại không thể làm mẹ Đức Chúa Trời được ?

      Xin Trả Lời : Trong Ba ngôi của một Đức Chúa Trời gồm có: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, Đức Chúa Thánh Linh, thì ngôi thứ Nhất và ngôi thứ Ba duy nhất chỉ có thần tánh. Còn riêng Ngôi Thứ Hai  là Chúa Giê-xu thì Ngài có hai  bản tánh :
1/ Nhân tánh là người
2/ Thần tánh là Đức Chúa Trời  .
Khi được gọi là nhân tánh, thì Đức Chúa Giê-xu là người có xác thịt thật.  Khi được gọi là thần tánh,  thì Đức Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời. Cho nên Đức Chúa Giê-xu vừa có nhân tánh vừa có thần tánh. Vì Ngài có hai bản tánh như thế cho nên Đức Chúa Giê-xu mới giáng thế thành người được. Khi Ngài giáng thế thành người thì dùng về nhân tánh, còn thần tánh Ngài vẫn là Đức Chúa Trời. Cho nên bà Ma-ri-a chỉ là mẹ Chúa Giê-xu về phần xác. Sở dĩ bà Ma-ri-a chỉ là mẹ Chúa Giêxu về phần xác: vì bà Ma-ri-a chỉ có nhân tánh là người. Cho nên Chúa Giêxu chỉ là con bà Mari về phần nhân tánh thôi. Chứ Ngài không thể làm con bà Mari về phần thần tánh là Đức Chúa Trời Chân thần được. Chính vì Đức Chúa Giê-xu có hai bản tánh cho nên Ngài mới là Đấng Trung Bảo. Đấng Trung Bảo phải có hai bản tánh mới làm trung gian giữa con người với Đức Chúa Trời.

Câu Hỏi Thứ Hai :Bà Ma-ri-a không có hai bản tánh, thì bà có phải là Đấng Trung Bảo không ?

Xin Trả Lời :

         Như đã nói ở trên bà Ma-ri-a không có hai bản tánh thì làm sao có thể trở thành Đấng Trung Bảo được. Giả sử bạn bảo bà Ma-ri là Đấng Trung Bảo, thì theo bạn thiên sứ đến báo tin về việc bà mang thai Đấng Cứu Thế có nghĩa gì? Vì đã có Đấng Trung Bảo rồi! Như vậy nếu ai đó lầm lạc mà công nhận bà Ma-ri-a là Đấng Trung Bảo thì sẽ có hai sự việc vô cùng quan trọng xảy ra .
1/  Người đó coi kế hoạch Cứu rỗi của Đức Chúa Trời, và việc giáng thế của Chúa Giê-xu là hoàn toàn sai trật đối với họ .
2 / Người đó muốn  đem sự bất ổn vào trong sự hiệp một của Ba ngôi Đức Chúa Trời, để làm rối loạn sự tể trể trị Thần hựu trong vương quốc của Ngài

      Trong Kinh Thánh không có chỗ nào nói bà Ma-ri-a là Đấng Trung Bảo cả, mà chỉ nói về Chúa Giê-xu thôi! Chúng ta hãy xem trong Kinh Thánh sách I Timôthê 2:5 lời Chúa phán: ““Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Ki-tô Giê-su.” Có người hỏi vui: Giả sử bà Ma-ri-a có hai bản tánh thì sao? Thật ra vấn đề này không thể có để chúng ta đặt ra câu hỏi hay trả lời dưới bất cứ hình thức nào. Nhưng nếu bạn muốn thoả mãn qua sự lấn cấn của tâm trí bạn thì tôi cũng xin trả lời: Giả sử bà Ma-ri-a có hai bản tánh, thì vũ trụ này đã rối loạn từ lâu rồi, trên trời, dưới đất, bên dưới đất đều phải thay đổi tất cả, chính chúng ta cũng chẳng có mặt ở đây để nói về chuyện này nữa. Tại sao thế? Vì một người dưới trần thế tự nhiên trở thành “Đấng Chân Thần” thì ai mà hiểu nổi! Chúng ta hãy quay về với Thánh Kinh để sự hiểu biết của chúng ta về Ba ngôi Đức Chúa Trời, về Bà Ma-ri-a, về chính chúng ta được Ngài giải đáp một cách cặn kẽ và thoả đáng hơn.

Câu Hỏi Thứ Ba: Bà Ma-ri-a có thật sự thăng thiên không ?

       Trước khi tôi trả lời cho bạn câu hỏi này, thì tôi sẽ có một câu hỏi để hỏi bạn trước: Bạn có thấy chỗ nào trong Kinh Thánh nói về bà Ma-ri-a thăng thiên phần hồn phần xác không? Hay là bạn chỉ nghe ở trong những câu kinh mà thôi. Chẳng hạn như có câu kinh tôi thường đọc trước kia là ‘” Nữ vương linh hồn và xác lên trời”.” Nếu giả sử trong xã hội ngày hôm nay, người ta chỉ nghe luật lệ truyền miệng từ người này qua người khác mà không có bộ luật một cách rõ ràng, thì bạn sẽ thấy cái xã hội đó nó ra thế nào?

       Về phương diện tâm linh cũng thế, nếu bạn cứ gấp cuốn Kinh Thánh lại, hay là cố tình tránh xa với Kinh Thánh, mà chỉ biết nghe Giáo hội hay người này, người khác thôi, thì chúng ta lấy gì bảo đảm là điều đó đúng với Chân Lý, là ý muốn của Đức Chúa Trời. Thậm chí đến linh hồn của bạn cũng mang một sự hy vọng giả tạo về thiên đàng thôi. Chứ bạn dựa vào đâu mà bạn qủa quyết chắc-chắn là sau khi chết sẽ được vào nơi đó.

        Cho nên bất kỳ một sự việc nào xảy ra trong sự thờ phượng, trong sự dạy dỗ, có ảnh hưởng đến niềm tin thì bạn phải đối chiếu với Thánh Kinh xem sự việc ấy ngã ngũ thế nào? Chứ đâu có phải là cứ phó linh hồn mình cho Giáo hội là được đâu, mà phải phó linh hồn mình cho Đấng Tạo hóa thành tín mới đúng. Trong Kinh Thánh sách I Phê-rô 4:19 lời Chúa phán.““ Vậy những ai chiụ khổ theo ý muốn Thiên Chúa , hãy phó mạng sống mình cho Đấng Tạo Hoá trung thành, và cứ làm điều thiện”.”  Bạn phải hiểu, là trong Thánh Kinh Chúa không hứa với bất kỳ Giáo hội hay Giáo phái nào trên đất được lên thiên đàng bằng hình thức tập thể cả,  mà là hình thức cá nhân. Cho nên chính bạn phải quyết định cho linh hồn mình bằng cách làm theo lời Đức Chúa Trời hay là không?

        Tôi muốn hỏi bạn : Bạn đang làm nghề gì đó ? Bạn có muốn thành công trong nghề nghiệp của bạn không? Nếu muốn ;thì bạn sản xuất sản phẩm theo ý muốn bạn ,hay là ý muốn  của người tiêu dùng ?
Bạn biết niềm tin thì quan trọng hơn cả , không phải ai nói điều gì cũng tin ,mà phải nói theo Kinh Thánh thì bạn mới tin, Còn nói ngoài Kinh Thánh thì bạn đừng tin .Trong Thánh Kinh sách II Timôthê 3 : 16 lời Chúa phán:” Tất cả những gì viết trong Sách Thánh, đều do Thiên Chúa linh ứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính. Nhờ vậy người của Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành”.”
Sự việc bà Ma-ri-a thăng thiên cả phần hồn lẫn phần xác đang có hàng tỷ người tin. Cá nhân tôi cũng đã tin từ  bao nhiêu năm về trước như bạn đang tin  hiện nay, nhưng rồi tôi không tin nữa, vì  Kinh Thánh không cho phép tôi tiếp tục tin, và bà Ma-ri-a cũng không bảo tôi tin. Nếu bạn đang tin; thì niềm tin đó được gọi là  niền tin ngoài Thánh Kinh. Mà niềm tin ngoài Thánh Kinh thì đem con người đến chỗ rất kinh khủng!
Có khi nào bạn nghĩ, tôi không đủ trình độ, kiến thức hay sự khôn ngoan thông thái để đặt niềm tin vào đó không? Nhưng mà đặt vào đó là đặt vào đâu? Bây giờ tôi hỏi bạn? Bạn tin bà Ma-ri-a thăng thiên cả phần hồn lẫn phần xác, thế thì bà Ma-ri-a thăng thiên vào thời điểm nào? Ai chứng cho điều này? Vì nếu bạn cho rằng bà Ma-ri-a là mẹ Đức Chúa Trời thì bà là một người quan trọng hơn cả Đức Chúa Trời nữa! Vậy sao Thánh Kinh lại không ký thuật sự việc quan trọng này? Đức Chúa Trời là Đấng toàn tri không hề đề cập gì đến việc thăng thiên của bà cả. Nhưng mà tại sao người bất tri lại biết bà thăng thiên mà phổ biến khắp nơi mới là kỳ lạ chứ! Theo bạn giải thích thế nào ? Phải chăng người ta suy diễn rằng, Chúa Giêxu là con mà còn thăng thiên được, chẳng lẽ mẹ không thăng thiên được sao! Nếu tôi hỏi bạn: Chúa Giê-xu thăng thiên hiện ngồi bên hữu Đức Chúa Trời, trong Thánh Kinh sách Mác-cô 16:19 Ký thuật.” “Nói xong ,Chúa Giê-su được đưa lên trời ngự bên hữu Thiên Chúa. ”Điều này thật chính xác.Thế còn bà Ma-ri-a, nếu bạn bảo đã thăng thiên rồi thì hiện bà ngự ở vị trí nào mà không thấy ai đề cập đến điều đó hết !Nhưng nếu bạn cho sự việc bà Ma-ri-a thăng thiên là đúng  ,thì mời bạn  nghe mẫu đối thoại sau đây:

      Giả sử, tôi đến phòng mạch nọ thăm một người bạn là bác sĩ, nhưng chẳng may ông ấy đi công việc gì đó một chút không có mặt tại đây, bà mẹ bác sĩ bảo tôi ngồi chờ ông ấy. Trong lúc tôi ngồi chờ, thì gặp bạn vào tìm bác sĩ khám bệnh . Bạn hỏi tôi có bác sĩ ở đây không ? Tôi trả lời bạn là bác sĩ không có ở đây ,nhưng có mẹ bác sĩ, nếu bạn cần khám bệnh thì tôi mời bà ấy ra. Chắc chắn bạn sẽ hỏi tôi. Bộ bà mẹ bác sĩ cũng là bác sĩ sao? Tôi trả lời với bạn rằng: Bà ấy không phải bác sĩ, nhưng theo tôi nghĩ, con là bác sĩ, thì chẳng lẽ mẹ của bác sĩ lại không đủ tư cách để khám bệnh cho bạn thay cho bác sĩ được sao! Bạn nghĩ thế nào? Nói đến mẹ của bác sĩ là nói đến một người đàn bà có người con bằng xương bằng thịt  có bằng cấp bác sĩ. Chứ không phải vừa là mẹ của con người vừa là mẹ của trình độ kiến thức hoặc bằng cấp làm sao được. Khi nói bà Ma-ri-a là mẹ Chúa Giê-xu có nghĩa là mẹ về con người có thân thể bằng thịt thật ,qua sự ban cho của Đức Thánh Linh, chứ không phải là mẹ cả về thần tính và thân vị của Chúa Giê-xu. Cho nên khi Chúa Giê-su thăng thiên là nói về thần tánh của Đức Chúa Trời. Còn bất kỳ ai đã sanh ra làm người trên trần thế này mang nhân tánh duy nhất  thì đều là con người hữu hạn ,bất năng . Không thể vượt khỏi sự bất toàn của mình .

Câu hỏi thứ Tư : Bà Ma-ri-a có trọn đời đồng trinh không?

        Đây là một câu hỏi quan trọng đang gây sự hiểu lầm đáng kể; kéo dài giữa người Công giáo và Tin lành. Sở dĩ có sự hiểu lầm là vì sự tiếp xúc với Thánh Kinh giữa hai bên khác hẳn nhau.  Một bên thì đi vào Chân lý của Thánh Kinh; còn một bên thì đi theo sự dạy dỗ của Giáo hội. Nếu chúng ta cùng mở Kinh Thánh ra, thì sự hiểu lầm về phương diện này sẽ chấm dứt, vì lời của Đức Chúa Trời đã bày tỏ một cách rõ ràng trong Kinh thánh sách Mát-thêu 1:18 – 24. Truyền tin cho ông Giu-se. “Sau đây là gốc tích Đức Chúa Giê-su Ki-tô: Bà Ma-ri-a mẹ người , đã thành hôn với ông Giu-se . Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần .ông Giu-se chồng bà là người công chính ,và không muốn tố giác bà ,nên mới định tâm bỏ cách kín đáo . Ông đang toan tính như vậy ,thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng :” Nầy ông Giu-se , con cháu Đa-vít ,đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về , vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần . bà sẽ sinh con trai và ông phải đặyt tên cho con trẻ là Giê-su .vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của học .Tất cả  việc này đã xảy ra để làm ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ . Này đây ,Trinh Nữ sẽ chiụ thai và sinh hạ một con trai ,người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-ên nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” . Khi tỉnh giấc ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà . Ông không ăn ở với bà cho đến khi bà sanh một con trai ,và ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su”.”

        Trong phân đoạn Thánh Kinh trên ,chúng ta thấy rõ đây là một bức tranh đã vẽ lên một sự thật tự nhiên trong mối quan hệ vợ chồng giữa bà Ma-ri-a và ông Giu-se. Trong câu 18 lời Chúa nói gì? “Song chưa chung sống cùng nhau.”” Chứ không phải là cấm sống chung hay là không được sống chung cùng nhau, nhưng mà chưa sống chung thì ông Giu-se  phát hiện được là bà Ma-ri-a đã có thai. Đây là sự việc mà trong thời nào cũng thế, chẳng ai không biết trước mà lại chấp nhận vui vẻ thì là một điều kỳ lạ. Nhưng cũng từ sự việc xảy ra mà chúng ta nhìn thấy tình yêu thương của ông Giu-se  dành cho bà Ma-ri-a trong tình nghĩa vợ chồng qúa ư là đặc biệt. Nhưng để phá tan sự buồn phiền  trong lòng, thì thiên sứ đã tức thời đến can thiệp trong giấc chiên bao của ông, và tỏ cho ông biết về chương trình của Đức Chúa Trời đang đặt trên đời sống của hai ông bà. Kinh Thánh cho biết khi thức dậy ông thực hành theo đúng ý muốn Chúa đem “vợ” về với mình và ông Giu-se “không hề ăn ở với” bà Ma-ri-a cho đến khi sanh Chúa Giê-su.
Hai câu được rút ra từ phân đoạn Thánh Kinh này, mang hai thời điểm khác nhau, nói lên sự quyết định hoàn toàn tự do giữa ông Giu-se và bà Ma-ri-a trong cuộc sống vợ chồng, như bất kỳ một cặp vợ chồng nào khác trên hành tinh này, mà không hề có sự cấm cản của Đức Chúa Trời. Thánh Kinh không hề nói đây chỉ là một cuộc hôn nhân giả tạo có hình thức, cũng chẳng có chỗ nào Chúa bắt ép ông Giu-se làm chồng giả của bà Ma-ri-a để cho công việc Chúa được hoàn thành bao giờ đâu. Chúng ta hãy nghe đây:

        1 / “ Song chưa chung sống cùng nhau câu 18”, có nghĩa là trước khi ông Giu-se  biết bà Ma-ri-a có thai, thì ông chưa chung sống  cùng bà, chứ không có một ai cấm ông chung sống cả. Đây là một việc hoàn toàn tự nhiên .

       2/  “Song không hề ăn ở với cho đến khi sanh một trai đặt tên là Giê-xu’’, có nghĩa là sau khi ông Giu-se biết bà Ma-ri-a có thai, thì  thiên sứ đến bày tỏ sự việc này cho ông, ông mang “vợ” về với mình, nhưng “ không hề ăn ở với” cho đến khi sanh Chúa Giê-xu. Đây cũng là một hành động tự nguyện của ông Giu-se và bà Ma-ri-a, muốn biệt riêng thời gian này cho Chúa, chứ thiên sứ không hề cấm ông Giô-sép quan hệ với vợ, hay là ông Giô-sép cũng chưa một lần nổi giận tuyên bố là sẽ cương quyết không ăn ở suốt đời với bà Mari đâu.Tất cả những gì tôi dẫn chứng ở trên đều có một giới hạn mang tính thời gian, mà Thánh Kinh đã đề cập đến .
Cho nên người Tin lành- tin bà Mari đồng trinh một cách kính trọng. Nhưng Kinh Thánh không cho phép chúng ta tin bà Ma-ri-a đồng trinh trọn đời. Vì bà Ma-ri-a cũng chưa hề có sự khấn hứa trọn đời để trình điều này lên Đức Chúa Trời, cũng như thông báo cho ông Giu-se biết quyết định quan trọng của bà Ma-ri-a bao giờ. Trong kinh thánh sách Mat-thêu 12: 46,– Mác-cô  6 : 3 – Luca 8: 20 đã nói đến gia đình của Chúa Giê-xu gồm có các anh em. Chứng tỏ rằng bà Ma-ri và ông Giô-sép có một cuộc sống bình thường trong tình nghĩa vợ chồng như mọi người trên đất. Nhưng gia đình này đặc biệt hơn tất cả mọi gia đình khác ở chỗ, đã được Chúa chọn lựa trước và Ngài đã dùng ông bà  vào ngay thời điểm hai ông bà bước vào ngưỡng cửa hôn nhân .

Câu Hỏi Thứ Năm :  Bà Ma-ri Có Vô Nhiễm Nguyên Tội Không ?

        Xin Trả lời : Đã mấy chục năm trôi qua trên khoảng đời của tôi, có một điều tôi thấy qúa lạ ở chỗ: Tôi chỉ nghe nói về bà Ma-ri-a vô nhiễm nguyên tội. Và rồi ai cũng tập trung vào vấn đề này. Nhưng  tôi thấy có một điều tối quan trọng khác mà chẳng ai đặt ra câu hỏi cả, vì nó có sự liên quan để trả lời cho câu hỏi ở trên. Vậy hôm nay tôi xin phép qúi vị để đặt ra một câu hỏi và mỗi người chúng ta tự trả lời xem thế nào. Nếu bà Ma-ri-a vô nhiễm nguyên tội, thì qúy biết bao. Thế  còn ông Giu-se là chồng bà Ma-ri-a sao mà chẳng thấy ai đề cập đến. Vì nếu chúng ta mời ông Giu-se đứng vào sự việc này, chúng ta mới thấy những điều không phù hợp  xảy ra. Bây giờ chúng ta đặt câu hỏi: Ông Giu-se  nhiễm nguyên tội, hay vô nhiễm nguyên tội? Vì nếu khẳng định bà Ma-ri-a vô nhiễm nguyên tội, thì bà không phải là người trần gian đó là điều chắc-chắn. Còn nếu nói ông Giu-se mắc tội tổ tông, thì tại sao Đức Chúa Trời lại kết hợp một cuộc hôn nhân lạ lùng như vậy? Phải chăng Đức Chúa Trời kết hợp hôn nhân cho bà Ma-ri-a không xứng hiệp ở chỗ một người thì mắc nguyên tội, còn một người thì không? Nếu thật sự hai người khác nhau như thế thì hai người phải ở hai thế giới riêng biệt .Thế sao Đức Chúa Trời lại kết hợp để họ sống chung ở thế giới này? Nếu thế thì khó hiểu qúa, giải thích thế nào được? Còn nếu bạn bảo, “ông Giô-sép cũng vô nhiễm nguyên tội”, thế thì cái rắc rối này không thể gỡ nổi. Vì đi ra ngoài Chân lý Kinh Thánh -thì chúng ta gặp  trở ngại càng ngày càng lớn hơn. Nhưng nếu ở trong Kinh Thánh thì trở ngại sẽ nhỏ dần rồi từ-từ biến mất.

       Nhưng cũng có người quả quyết rằng: Ông Giô-sép chỉ là bạn thanh sạch với bà Mari thôi. Lại thêm một sự rắc rối nữa! Sau đây Kinh Thánh sẽ chứng minh cho chúng ta biết rõ ràng; qua  ba câu trong số rất nhiều câu sau đây:
1/ Mát-–thêu  1:19 “ “Ông Giu-se  chồng bà  là người công chính…”.”
2/  Ma-thi-ơ 1 : 20 ““ Này ông Giu-se ,con cháu Đa-vít ,đừng ngại đón Ma-ri-a vợ ông về“”
3 / Mathiơ 1:24  ” “Khi tỉnh giấc ,ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà”’
Ba câu Kinh Thánh trên nói lên sự xưng hô “vợ chồng”, đúng nghĩa là một cặp vợ chồng  thật sự, không chỗ nào nói là bạn thanh sạch cả.

A/ Kinh Thánh qủa quyết.
Trong I Co 15 : 47 lời Chúa phán :““ Người thứ nhứt bởi đất mà ra, thì thuộc về đất, còn người thứ hai thì từ trời mà đến. Những kẻ thuộc về đất ,thì giống như kẻ bởi đất mà ra; còn những kẻ thuộc về trời thì giống như Đấng từ trời mà đến.” Như vậy tất cả mọi người trên đất thuộc về tổ phụ loài người là A-đam và E-va thì  tất cả đều nhiễm nguyên tội hết .
Thánh Kinh phán một cách qủa quyết trong Rô-ma 3:23 rằng :Thật vậy mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa”.’

B/ Vấn Đề được đặt ra
Nếu bà Ma-ri-a là người không nhiễm nguyên tội, thì việc không nhiễm nguyên tội này kể từ khi bà mới được cha mẹ sanh ra, hay là bắt đầu từ khi thiên sứ báo tin hoài thai Chúa Giê-xu?  Có hai điều cần làm sáng tỏ ở đây:
a/ Nếu bảo bà Ma-ri-a không nhiễm nguyên tội từ khi cha mẹ sanh ra? Tại sao bà Ma-ri-a cũng do  cha mẹ sanh ra như mọi người khác mà lại không nhiễm nguyên tội ? Phải chăng thân phụ và thân mẫu của bà không mắc tội tổ tông?
b/ Nếu bảo bà Mari không nhiễm nguyên tội kể từ khi hoài thai Chúa Giê-xu. Thế tại sao hoài thai Chúa Giê-xu mà lại được Chúa ban đặc ân loại trừ nguyên tội? Điều này Thánh Kinh có nói không ?

       Có người đặt câu hỏi: Nếu bà Ma-ri-a nhiễm nguyên tội thì làm sao hoài thai Chúa Giê-xu là Đấng vô tội được .
Xin trả lời: Mặc dù bà Ma-ri-a nhiễm nguyên tội , nhưng hoài thai Chúa Giê-xu là Đấng hoàn toàn vô tội vì có những sự bày tỏ của Thánh Kinh một cách rõ ràng sau đây :
1/ Trong Thánh Kinh sách Luca 1 : 34   bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: ““ Việc sẽ xảy ra cách nào ,vì tôi không biết đến việc vợ chồng”.”
2/ Trong Kinh Thánh sách Lu-ca 1 : 35 “sứ thần  đáp : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà ,và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà ,vì thế Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là con Thiên Chúa”.” Như vậy là Chân Lý đã giúp bạn hiểu cặn kẽ về vấn đề này rồi chứ ?
3/ Xuất Phát Từ Giáo hội :
Trong quyển Thánh Kinh Lược Khảo của tác giả. HENRY H .HALLEY tóm tắt về sử ký Hội Thánh, trang 1163 có phần nói về sự vô nhiễm nguyên tội của bà Ma-ri-a xin trích ra sau đây: Năm 1854, Giáo hoàng Pie IX“ dùng quyền hành cao cả của mình và không có sự hợp tác của một Giáo hội nghị”đã công bố giáo lý về bà Ma-ri-a, được thai dựng không mắc nguyên tội, cốt để dò ý người tín hữu Công giáo La-mã về vấn đề Giáo hoàng vô ngộ. Giáo lý ấy đã được nhìn nhận, nên ông dạn dĩ triệu tập giáo hội nghị Vatican  (1870)với mục đích rõ rệt ,là để tuyên bố ông vô ngộ”.

       Nếu đã gọi Thánh Kinh là Chân lý thì không ai có thể bắt Chân lý phục theo ý muốn mình, Vì không sớm thì muộn, Chân Lý cũng phơi bày những sự việc mang tính che đậy Chân Lý. Cuộc sống bình an và phước hạnh nhất cho một người tin Chúa là gì? Quay về với Chân lý là đúng với ý muốn của Thiên Chúa. Vì sẽ có một ngày, mỗi chúng ta sẽ đối diện trước sự phán xét của Đức Chúa Trời mà sẽ không có ai bên cạnh chúng ta để nhận sự sai trật mà họ đã từng dạy dỗ cho mình. Và mình cũng chẳng đổ thừa cho ai được, vì Thánh Kinh đã nằm trong tầm tay của mỗi chúng ta. Qúy vị có  thể tìm mua cuốn Thánh Kinh Lược Khảo của HENRY H .HALLEY tại các tiệm sách Tin Lành hoặc Công giáo . Có thể bạn xuống nhà sách Dòng Chúa Cứu Thế đôi khi cũng tìm được. Hãy mua một cuốn và xem ở phần sau cùng trang 1163 về việc tóm tắt Lịch sử Hội Thánh thì sẽ đáp ứng cho bạn một phần nào về sự hiểu biết cần có. Kính chúc bạn  luôn là một con chiên ngoan của Chúa, hãy can đảm đọc lời Chúa để thấy được sự phước hạnh trong con đường thiên đàng mà Chúa đang soi sáng cho bạn. Chúa đang chờ đón bạn ở tương lai . Amen .

servant   Elijah nghiem

 

This entry was posted in Bài Giảng, Mục Lục. Bookmark the permalink.

Comments are closed.